Tầm soát dị tật bẩm sinh, nâng cao chất lượng dân số

0
7

Chất lượng dân số nước ta đã được cải thiện và nâng lên, tuy nhiên tỉ lệ người khuyết tật trong dân số còn cao. Nâng cao chất lượng dân số, hạn chế đến mức thấp nhất người khuyết tật do các bệnh bẩm sinh gây ra là một trong những mục tiêu quan trọng được nhấn mạnh trong Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới.

Tháng Hành động Quốc gia về Dân số và Ngày Dân số Việt Nam năm nay, ngành Dân số đã tập trung, chú trọng vào mục tiêu này với chủ đề “Thực hiện tầm soát, chẩn đoán và điều trị sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh, góp phần nâng cao chất lượng dân số”.

 Cần có sự quan tâm đúng mức đến các thế hệ tương lai của đất nước.Ảnh: Chí Cường

Cần có sự quan tâm đúng mức đến các thế hệ tương lai của đất nước.Ảnh: Chí Cường

Hạn chế tối đa dị tật từ trong bụng mẹ

Chất lượng dân số nước ta đã có những tiến bộ lớn thông qua chỉ số phát triển con người (HDI) được cải thiện rõ rệt. Chất lượng dân số được đánh giá qua 3 khía cạnh: Thể chất, trí tuệ và tinh thần. Về mặt thể chất, sức khỏe của người Việt Nam so với mức thu nhập bình quân đầu người là khá tốt như tỉ lệ suy dinh dưỡng, tỉ lệ chết trẻ dưới 1 tuổi và 5 tuổi, tỉ lệ chết mẹ đã giảm đáng kể.

Tuy nhiên, mức tử vong của bà mẹ, trẻ em còn rất chênh lệch giữa các vùng miền, đặc biệt ở những khu vực điều kiện kinh tế – xã hội còn nhiều khó khăn, hạn chế. Tình trạng tảo hôn, hôn nhân cận huyết ở một số địa bàn, một số dân tộc còn cao; tầm vóc, thể lực người Việt chậm được cải thiện; tuổi thọ bình quân tăng nhưng số năm sống khỏe thấp; nguy cơ già hóa dân số nhanh; vẫn còn tình trạng tảo hôn, kết hôn cận huyết ở một số vùng dân tộc ít người, tỉ lệ người khuyết tật trong dân số còn cao. Tỷ lệ thực hiện tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh ở một số tỉnh, thành phố còn thấp, chưa tương xứng với nhu cầu và khả năng cung cấp dịch vụ. Theo số liệu thống kê của Bộ Y tế, hiện nay số trẻ bị dị tật bẩm sinh đang chiếm từ 1,5 – 2%, tức là hiện có khoảng 22.000 – 30.000 trẻ em có bệnh tật bẩm sinh. Trong số các dị tật, có các bệnh phổ biến như: Down, hội chứng Ewards, dị tật ống thần kinh, suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh, tan máu bẩm sinh (Thalassemia) thể nặng và các bệnh lý di truyền, dị tật bẩm sinh khác.

Chính vì những khó khăn, thách thức trên, việc vận động phụ nữ chuẩn bị mang thai và đang mang thai thực hiện tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh là rất quan trọng. Theo các bác sĩ chuyên khoa, việc sàng lọc trước sinh thông qua việc các bà mẹ khám định kỳ, siêu âm, xét nghiệm trong thời kỳ mang thai, sẽ giúp các cặp vợ chồng biết chính xác 80 – 90% thai nhi của mình khỏe mạnh hay có vấn đề gì bất thường. Cùng với sang lọc trước sinh và sàng lọc sơ sinh (thông qua việc lấy máu gót chân trẻ 48 giờ sau sinh, nhằm phát hiện các bệnh suy giáp bẩm sinh, thiếu men G6PD, tăng sản tuyến thượng thận bẩm sinh…) sẽ giúp ngành Y tế can thiệp sớm, hạn chế tối đa dị tật từ trong bụng mẹ và giúp trẻ sinh ra phát triển bình thường.

Nhiệm vụ quan trọng, lâu dài của ngành Dân số

Để hạn chế tối đa dị tật bẩm sinh từ trong bụng mẹ và các bệnh có thể được phát hiện và điều trị ngay sau sinh, đòi hỏi cần nhiều giải pháp đồng bộ và sự vào cuộc của tất cả các ngành, các cấp. Riêng ngành Dân số, để thực hiện nhiệm vụ quan trọng này, ngành Dân số đã đề ra phương án dự phòng 3 cấp: Cấp 1 là tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân – để thanh niên nam nữ sắp kết hôn nhận biết và phòng tránh các rủi ro liên quan đến sức khỏe sinh sản, hạn chế thấp nhất các nguy cơ ảnh hưởng đến sức khỏe của con cái. Cấp 2 là sàng lọc trước sinh, tức là kiểm tra nhằm phát hiện sớm các tật, bệnh của thai nhi để đưa ra các cảnh báo cũng như biện pháp xử lý kịp thời, thỏa đáng. Cấp 3 là sàng lọc sau sinh, tức là kiểm tra tình trạng tật, bệnh của em bé ngay khi chào đời.

Nếu thực hiện đầy đủ 3 cấp dự phòng nói trên, chất lượng dân số đầu đời của Việt Nam sẽ nhanh chóng nâng cao và thực tế cũng đã kiểm chứng phương án dự phòng 3 cấp đã mang lại hiệu quả. Nhiều địa phương trong cả nước từ năm 2011 đến nay đã thực hiện nhiều mô hình “Tư vấn, khám sức khoẻ tiền hôn nhân”. Không chỉ giúp phương án dự phòng 3 cấp đạt mục tiêu nâng cao chất lượng dân số đầu đời, tư vấn, khám sức khỏe tiền hôn nhân của ngành Dân số còn là một trong số ít giải pháp đảm bảo quyền lợi của trẻ vị thành niên, đặc biệt là trẻ em gái từ 15-19 tuổi.

Việc thực hiện sàng lọc trước sinh và sơ sinh không chỉ là chuyện cá nhân của gia đình nào mà chính là bước đi lâu dài của ngành Dân số nói riêng và cả xã hội nói chung, vì mục tiêu cải thiện, nâng cao chất lượng giống nòi và sự phồn vinh của xã hội; hướng tới một tương lai hạn chế đến mức thấp nhất người khuyết tật do các bệnh bẩm sinh gây ra. Đây cũng là một trong những nhiệm vụ quan trọng được Nghị quyết số 21-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về công tác dân số trong tình hình mới nhấn mạnh: Phấn đấu đến năm 2030, có 70% số phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% số trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

Hiện nay, Đề án tầm soát, chẩn đoán sớm bệnh tật trước sinh và sơ sinh đã được Bộ Y tế triển khai tại 63/63 tỉnh, thành phố trên toàn quốc. Trên cả nước có 6 trung tâm sàng lọc, chẩn đoán trước sinh và sơ sinh phục vụ nhu cầu của người dân, gồm: Bệnh viện Phụ sản Trung ương, Bệnh viện Từ Dũ TP Hồ Chí Minh, Bệnh viện Nhi Trung ương, Đại học Y Dược Huế, Trung tâm Sàng lọc – Chẩn đoán trước sinh và sơ sinh Cần Thơ, Trung tâm Sàng lọc trước sinh và sơ sinh tỉnh Nghệ An. Các trung tâm bảo đảm cung cấp các dịch vụ này cho phụ nữ mang thai và trẻ sơ sinh. Tại các tuyến quận, huyện, thai phụ có thể đến Trung tâm DS-KHHGĐ để được tư vấn, khám sàng lọc, phát hiện sớm những bất thường hay dị tật thai nhi.

Hà Anh

Chia sẻ